Gaza qua khung cửa sổ (Mosab Abu Toha) / by Phuong Nguyen

Đó là ngày thứ năm, 12 tháng Mười và những mảnh giấy nhỏ đang rơi xuống từ vòm trời thành phố Beit Lahia thuộc miền bắc dải Gaza, nơi tôi và gia đình sinh sống. Trên mảnh giấy là phù hiệu của quân đội Israel kèm theo lời cảnh báo: Hãy tránh xa khỏi những khu vực quân sự của lực lượng Hamas, và hãy rời khỏi nhà ngay lập tức.

Tôi phóng xuống lầu và thấy cha mẹ cùng các anh em mình đang hối hả đóng gói đồ đạc. Bao gia đình tứ tán đã tràn đến các trường học trong khu vực để tỵ nạn. Đây là những nơi được vận hành bởi Quỹ cứu trợ Liên Hiệp Quốc và Cơ quan tuyển dụng dành cho người Tỵ nạn Palestine ở vùng cận đông. Mẹ tôi nhận được cuộc điện từ chú, ông nói rằng gia đình tôi có thể đến trú tạm chỗ nhà vợ ông ở Jabalia, tên của trại tỵ nạn lớn nhất ở dải Gaza nơi hàng chục nghìn người đang sinh sống.

Rồi vợ tôi, chị dâu, mẹ cùng các chị em ruột và lũ trẻ vội đi đến khu trại ấy bằng xe hơi. Anh lớn của tôi, anh rể và tôi thì theo sau bằng xe đạp. Giữa đường đi chúng tôi thấy hàng tá gia đình đang cuốc bộ, tay xách nách mang những gì họ có thể mang vác. Không lâu sau đó Israel sẽ ra hiệu lệnh di tản đến hàng triệu cư dân ở miền bắc Gaza, một yêu cầu mà chính Liên Hiệp Quốc cũng gọi là “bất khả thi".

Tối hôm đó vào khoảng 8 giờ 30, căn hộ nơi chúng tôi đang trú ngụ bỗng sáng lòa bởi một vụ nổ. Bụi mịt mù tràn vào mọi ngóc ngách căn phòng, xung quanh mọi người gào thét, tiếng thét của họ cũng đinh tai không thua gì vụ nổ. Tôi chạy vội ra ngoài nhưng chẳng đi được xa bởi trên đường giờ đây ngổn ngang mảnh vụn và những cây cọc thép. Cách đó khoảng chừng 50 mét, xe hơi của anh rể tôi đang bốc cháy, căn nhà gần đó cũng đang bị nuốt trọn trong ngọn lửa dữ. Tôi ngước mắt nhìn lên tầng hai căn nhà đó, nơi giờ đây chẳng còn bốn bức tường và thấy dáng hình một người đàn bà đang cheo leo đứng bên mép vực, trong tay bà ôm một đứa trẻ bất động.

Những căn nhà ở Jabalia bé đến nỗi phòng khách tràn ra đường. Bạn có thể nghe thấy hàng xóm đang nói gì, có thể ngửi thấy mùi thức ăn vươn ra từ căn bếp. Nhiều con hẻm rất hẹp chỉ chừng một mét. Sau hai ngày ở khu trại, vào sáng thứ bảy, gia đình chúng tôi chẳng còn gì để ăn. Israel đã cắt đứt đường vận chuyển lương thực, điện nước, năng lượng lẫn thuốc men đến toàn dải Gaza. Tôi đi tìm một hiệu bánh, nhưng trước cửa tiệm là hàng trăm người đang đứng đợi mỏi mòn. Chỉ mới hai ngày trước cuộc tấn công nhà tôi vừa ăn bánh pita. Mớ bánh thừa vẫn còn trong tủ lạnh ở căn nhà tại Beit Lahia.

Tôi quyết định quay về nhà mà không nói với mẹ hay vợ tôi. Tôi biết chắc chắn họ sẽ ngăn cản ý định đó. Chuyến đi chỉ vỏn vẹn mười phút, tôi thấy hai bên vệ đường bao người đang đi về hướng ngược lại, trĩu nặng trên vai họ là túi to áo quần, chăn nệm và thực phẩm. Một cảm giác đáng sợ chợt thoáng qua khi tôi nhận ra chẳng còn hình ảnh lũ trẻ chơi đá banh hay bắn bi vui vẻ. Tôi nhủ thầm đây chẳng còn là khu phố mà mình từng quen thuộc.

Trên đường lớn, tôi bắt gặp những cảnh tượng kinh hoàng khác. Một cửa hiệu nơi tôi từng đưa lũ trẻ đến mua nước trái cây và bánh bích quy giờ chỉ còn là tàn tích gạch vụn. Cái tủ lạnh nơi từng chất đầy kem giờ ngổn ngang đá cuội. Tôi ngửi thấy mùi thuốc nổ lẫn trong mùi thịt cháy.

Tôi đạp nhanh hơn. Tôi rẽ trái hướng về nhà mình.

Tôi được sinh ra ở Al-Shati, một trong tám trại tỵ nạn ở dải Gaza. Vào năm 2000, khi cuộc khởi nghĩa Intifada thứ hai vừa bắt đầu, cha tôi quyết định chuyển cả gia đình đến Beit Lahia. Căn nhà mới của chúng tôi chẳng có cửa sổ còn sàn nhà thì trơ trụi không viên gạch lót. Những ống dẫn nước lộ ra khắp nơi trong căn bếp và phòng tắm.

Cha tôi đã vay tiền để mua một mảnh đất kề bên vào năm 2010, nơi ông cùng mẹ gieo trồng cây ăn quả như là ổi, chanh, cam, cây đào và cả xoài cùng nhiều loại rau khác. Ông cũng tìm thấy thú vui trong việc chăn nuôi và có một đàn gà, vịt, một đám thỏ và cả bồ câu trong khu vườn.  

Sau chương trình nghiên cứu sinh Hoa kỳ vào năm 2021, tôi trở về Gaza và bất ngờ thấy cha mẹ đã trùng tu căn hộ của vợ chồng tôi trong thời gian tôi vắng nhà. Họ mua cho chúng tôi thảm mới, bộ ly thủy tinh, chén dĩa mới và cả một chiếc bàn làm việc mới cóng! Họ đóng cho tôi một chiếc tủ nơi tôi sẽ chất đầy những cuốn sách vừa mua sau chuyến đi. Trần nhà cũng được sơn lại cùng hoa văn tôi yêu thích với một ngôi sao màu nâu-vàng ở chính giữa, bao quanh bởi những hình tam giác, hình tròn nhỏ và một chiếc cầu vồng. Những hình ảnh, sắc màu đó đó đứng cạnh nhau, ôm lấy nhau, hòa thuận bên nhau cứ như bao người hàng xóm xa lạ sống cùng tầng trong tòa nhà vậy. Giây phút vừa nhìn thấy những hoa văn này, tôi lập tức hiểu rằng cha mẹ yêu thương mình đến nhường nào.

Những tưởng tôi là người duy nhất trên đường nhưng khi đến gần tòa nhà, tôi bất ngờ thấy anh hàng xóm Jaleel đang tưới cây, một tay kẹp điếu thuốc. Anh bảo tôi rằng vợ và em dâu anh đang ở trong nhà giặt đồ, họ đang đổ nước đầy bình và nhồi thức ăn vào túi nhựa bởi họ đang tỵ nạn ở một trường học, và ở đó không có nước sạch, nhà vệ sinh vô cùng bẩn thỉu, thế nhưng chẳng còn lựa chọn nào khác.

Thở phào nhẹ nhõm khi thấy tòa nhà nơi mình từng sống vẫn còn đứng vững, tôi cuốc bộ đến căn hộ ở tầng ba. Tôi ghé qua căn bếp trước tiên. Cửa tủ lạnh và ngăn đá vẫn còn để hở như lúc mà chúng tôi vội vàng chạy đi, vì không còn đủ điện nên mọi thứ bắt đầu phân hủy, trừ mớ bánh mì vẫn còn cầm cự được.

Tôi tiến vào thư phòng nơi tôi thường ngồi viết thơ, truyện ngắn và tiểu luận, nơi tôi từng dành hàng giờ đọc Kalil Gibranm Naomi Shihab Nye, Mary Karrr và Mahmoud Darwish. Mọi thứ giờ đây phủ đầy bụi, cửa kính vỡ nát, một vài cuốn sách đã rơi khỏi kệ. Tôi lấy vài thỏi kẹo từ hộc tủ mang về cho lũ trẻ.

Rồi tôi bước vào phòng khách. Cửa sổ vẫn mở như mọi khi, và tôi ước gì mình có thể khép chúng lại vì mùa đông lạnh sắp tới nhưng toàn bộ cửa sổ đã vỡ tan bởi rung chấn từ vụ nổ, và giờ thì ai mà có tiền để sửa cửa sổ ở Gaza? Tấm rèm từng thổi tung vào người tôi dưới cơn mưa bom giờ đang nhẹ nhàng đung đưa trong cơn gió.

Tôi ngồi trên ghế bành, ngước mắt nhìn lên trần nhà, những hoa văn đủ sắc hình vẫn còn sáng lên trong nước sơn mới. Chùm đèn lơ lửng trên đầu. Hai trong số chúng được nối dây, một thì dùng pin phòng khi cúp điện, nhưng giờ đây không còn cái nào hoạt động cả.

Một đợt nóng bất thần ập đến vào buổi chiều. Chẳng còn tiếng động cơ xe máy rì rầm và âm thanh của chiếc xe kem quen thuộc ngày thường, chỉ còn tiếng vo ve của những chiếc drone đang bay trên đầu. Chẳng còn học sinh rộn ràng trên đường về nhà lúc tan trường, chẳng còn những gia đình chở nhau đi đến bãi biển, và vườn cây giờ đây im bặt tiếng chim. Bên tai tôi vang vọng tiếng còi hụ inh ỏi từ xe cứu thương và cứu hỏa, những dòng tin tức rò rè trên đài, và vẳng lại từ xa là những tiếng nổ, lúc thỉnh thoảng, lúc liên tiếp không ngừng. Một bản hòa âm mới mẻ nhưng vô cùng xa lạ.

Dường như có một con ruồi mắc kẹt trong phòng khách. Giờ đây việc đuổi nó đi chẳng còn quan trọng nhưng tôi vẫn muốn vén rèm rồi mở tung cửa sổ. Rồi một vụ nổ bất thình lình dội xuống thổi tôi bay về góc tường, ngay sau đó là cơn rung chấn dữ dội trên mặt đất và cả trong tim tôi. Những cuốn sách đang rơi xuống từ trên giá.

Đàn chim hối hả bay lên trời, một con không bắt kịp rồi rụng xuống khi chưa kịp ngóc đầu. Có lẽ một hòn đá đã đập trúng nó. Ai sẽ băng bó cho nó khi giờ đây thậm chí chẳng có đủ bác sĩ cho con người?

Tôi quay lại chiếc ghế và nhìn vào điện thoại đang sáng lên những dòng tin mới: “Hai vụ nổ lớn ở Beit Lahia, thông tin đang được cập nhật.” Tôi tự hỏi điều gì đã xảy đến với con ruồi. Đây có phải là lời cảnh báo cho cả hai chúng tôi: đừng di chuyển.

Một ý nghĩ bất thần ập tới và tôi không thể giũ nó khỏi đầu. Tôi bâng khuâng liệu chính mình có trở thành một số liệu hay không? Tôi tưởng tượng bản thân đang chết dần mòn trong khi cái tên mình được xướng lên trên đài.

Tôi nhớ đến một ngày vào năm 2020, khi tôi cùng vợ chứng kiến bão tuyết ở Syracuse, New York. Người dân túa ra từ trong nhà để xem điện có bị cúp hay chưa. Vợ tôi bật cười khi tôi nói rằng “Nếu mấy người này ở Gaza, họ sẽ bâng khuâng ở ngoài đường cả ngày.”

Tôi vẫn nhìn chăm chăm lên trần nhà nơi chẳng còn con ruồi nào đang bay. Trà đã pha xong nhưng tôi chẳng còn tâm trạng nào để uống. Bụi mù từ hai cú nổ đang dần rơi xuống ghế sô-pha, phủ một lớp mỏng trên bàn, bám vào tấm thảm. Tôi khép cửa sổ lại một chút chỉ để chừa ra một khe hở.

Tôi quên nhắc đến tiếng chó. Thường ngày bọn chúng chẳng khiến tôi để tâm nhưng từ sau khi Israel liên tục công kích, lũ chó đã trở nên ồn ào hơn hẳn. Đôi khi vào ban đêm, chúng tru lên một cách thê lương như đang khóc.

Trần nhà cũng đang trừng trừng nhìn lại, rồi tôi khép mắt. Khi mở mắt ra, những ngôi sao, hình tròn và tam giác bên cạnh cầu vồng vẫn còn nguyên vẹn ở đó. Cách chúng bám vào trần nhà cứ như đứa trẻ bấu víu bầu ngực mẹ. Trong một phút giây, tôi ước sao mình có thể quay về làm một đứa nhỏ.

Một tiếng nổ khác rền vang mà không để lại vệt khói. Cảm giác kinh hoàng chạy dọc sống lưng, tôi tưởng như mình bị mù mỗi lần nghe tiếng nổ mà không nhìn thấy nó xảy ra ở đâu. Tôi nghĩ đến trại tị nạn nơi gia đình mình đang trú ngụ, tôi nghĩ đến đứa con gái bảy tuổi là Jaffa. Con bé chưa bao giờ hỏi tôi “Ai đang ném bom chúng ta vậy cha?”, nó chỉ khóc lên rằng “Cha ơi, bom đang rơi! Con sợ! Con muốn trốn đi!”

Tôi gọi cho vợ mình Miriam. Cô ấy bảo rằng mọi người đều “ổn”. Bọn trẻ “đang xem video trên Youtube”, bởi đó là thứ duy nhất có thể phân tán sự chú ý của chúng khỏi những vụ nổ.

Tôi vội gom một tá trứng, ít thịt bò, thịt gà, bánh mì còn ăn được trong bếp. Tôi không dám lấy nồi hay chảo vì sợ rằng những chiếc drone Israel sẽ tưởng nhầm chúng là súng hay pháo. Tôi lấy thêm một dây sạc điện tử ở thư viện, rồi thoáng nhìn lại chồng sách trên bàn làm việc trước khi rời đi. Chúng ở đó, như đang đợi chờ tôi tiến đến chọn một cuốn mang ra vườn, nơi tôi sẽ nằm dưới tán cây ăn trái rồi tận hưởng cuốn sách trong một buổi chiều êm ái. Tôi ước ao được nếm vị ngọt của nước ép ổi, hay một chút nước chanh mát ngay bây giờ.

Tôi lại ngồi xuống ghế sô pha để lấy hơi rồi lại ngước nhìn trần nhà. Suốt bảy ngày qua, bao căn nhà đã đổ sập xuống những gia đình chúng từng cưu mang rồi nghiến chết họ, có lẽ nào trần nhà của tôi cũng sẽ rơi xuống và chôn vùi tôi? Cái gì sẽ giết chết tôi? Những hình tam giác nhỏ? Hay là mảnh cầu vồng? Hay những ngôi sao màu vàng và nâu?

Trên đường đạp xe về lại trại tị nạn Jabalia, tôi có thể cảm thấy ánh mắt bao người bên đường đang dõi nhìn túi đồ ăn giắt trên xe mình. Tôi có thể hiểu được tâm trạng họ, rằng họ cũng ước ao được quay về nhà để mang đi tư trang cần thiết.

Gần đến “nhà”, tôi phải đạp qua một con đường đầy đá vụn và mảnh bom. Tôi cẩn thận luồn lách để bánh xe không phát nổ dưới sức nặng của tôi cùng bao túi đồ lỉnh kỉnh. Xung quanh là bao gia đình đang lê bước, có vài đứa trẻ đang chơi nhảy lò cò. Có lẽ họ sẽ giật mình kinh hoảng nếu lỡ như chiếc bánh xe này phát nổ.